Story

[Truyện ngắn] Ông Đoàn đậu – Phần cuối

Vét hết những sợi phở, ông lấy cơm nguội đổ vào bát nước phở vẫn còn âm ấm. Ông ngồi xổm giữa nhà cạnh nồi cơm nguội chỏng chơ xì xụp húp đến cạn mới thôi. Ông chẳng biết khi đó vợ ông đứng đằng sau mép cửa buồng trông ra mà mắt cay xè…

Mấy bữa sau ông bảo con gái đi bán đậu thay vì ba không có xe, còn ông ở nhà làm vườn trồng rau mang ra chợ bán. Đứa con gái lớn lẳng lặng nghỉ học mà không để ba mẹ biết, nó đi bán đậu cả sáng cả chiều, tiền mang về nhiều hơn nên cả nhà phấn khởi lắm. Sáng sớm nó bảo đi học nhưng lại cắp cái mẹt với xô theo, ba hỏi nó bảo trưa đi học về con ra thị xã lấy đậu luôn, chiều bán sớm thì bán được nhiều hơn. Thế là nó đi cả ngày trưa không về nhà ăn cơm. Ở nhà ông Đoàn đậu loanh quanh dọn vườn trồng rau câu cá bắt ếch bắt cua mang ra chợ bán. Những lúc rảnh ông lại mang đống tre và giang ra chẻ. Đứa con út mới 10 tuổi thấy vậy chạy ra ngây ngô hỏi:

“Mẹ ốm vậy có dậy làm được không mà ba tước nan làm chi?”

Ông nghe lòng mình đau mà bất lực, ông vòng tay ôm đứa con gái vào lòng thủ thỉ:

“Mẹ ốm không làm được thì ba sẽ học để làm.”

“Vậy con cũng học.” – đứa con gái thủ thỉ

“Thế ngồi xuống đây tước lạt với ba nhé!”

“Dạ!”


Hai đứa con gái còn lại của ông Đoàn một buổi đi học một buổi về phụ giúp ba hái rau mang ra chợ bán. Một hôm đứa thứ hai đi học về sớm, giữa trưa nắng chang chang vừa đói vừa khát nó rảo bước thật nhanh để về nhà, bỗng đôi chân nó sững lại khi nhìn bên kia đường, dưới gốc cây xà cừ là chiếc xe đạp phượng hoàng màu xanh và một bóng hình quen thuộc. Nó nhìn mà mắt nhòe đi, nhưng có nhòe thế nào thì nó vẫn nhìn rõ chị nó đang ngồi thui thủi dưới gốc cây gặm bánh mì, chốc chốc lại cầm chai nước uống ừng ực vì bánh mì khô quá. Nó muốn chạy lại ôm ngay lấy chị, bảo chị về nhà đi… về nhà ăn cơm với bố mẹ và các em! Nhưng nó lại sợ, lại ngại, bởi trước nay gia đình nó thương nhau trong câm lặng, nó sợ chị sẽ bối rối, sẽ ngại ngùng, xấu hổ nên nó lại thôi, kéo xụp cái mũ nan xuống cúi gằm mặt đi thật nhanh về nhà coi như không thấy chị. Nước mắt nó giàn giụa.

Ông Đoàn biết vừa buồn vừa giận mắng đứa lớn:

“Sao mày không đi học hả con?”

“Ba biết vì sao mà…”

Im lặng một lúc rồi chẳng ai nói gì, hai ba con ôm nhau khóc. Ông mếu máo bảo con: Nhưng ít nhất trưa đến cũng về nhà ăn cơm với ba mẹ và các em chứ. Nó cũng nước mắt ngắn dài chỉ dạ một tiếng rồi cứ thút thít. Mẹ nó đứng trong buồng trông ra mà nghe lòng chua chát.

Hôm sau không thấy bà đâu, cả nhà hớt hải đi tìm nhưng tìm mãi chẳng ra, nếu bà nghĩ quẩn bỏ đi thì ông và các con day dứt lắm. Nhưng đến trưa thì bà về, bà về bằng chiếc xe đạp quen thuộc của ông, mặt bà hớn hở, trên tay lái treo lủng lẳng mấy chiếc bánh giò. Hóa ra sáng hôm đó bà đi bộ ra thị trấn chuộc lại chiếc xe đạp của ông, bà bảo: tôi với ông ngày cưới nhau có mỗi chiếc xe đạp mà xây được nhà nuôi được con, sau này kể cả không dùng nữa cũng đừng bán đi huống hồ giờ ông còn dùng nó hằng ngày… Ông Đoàn nghe thế mà thấy lòng ấm áp. Hạnh phúc trên đời là lấy được một người vợ chia non sẻ biển với mình, dù có khó khăn vất vả nhưng vợ chồng vẫn thương nhau. Bữa trưa hôm đó cả nhà cười nói vui vẻ. Ăn từng miếng bánh giò mà thấy ấm, thấy mềm, thấy thơm ngon lừng lẫy.


Ít lâu sau bà mất. Từ đó đến nay đã 20 năm, con cái lớn cả rồi nhưng ông không đi bước nữa, hằng ngày vẫn đạp chiếc xe chống sét gỉ màu nâu ọp ẹp đi bán đậu phụ, tối về ông lại mở đài băng ra nghe lại những bài ca cổ trầm ngâm. Tóc ông bạc trắng cả rồi chứ không đen như cái mẹt ngấm nước đậu lâu năm ông vẫn mang nữa.

Con gái ông cũng vì thương ba mẹ nên bỏ học mà lấy chồng sớm, nhưng khổ nỗi lại lấy chồng xa, cô cả vậy mà cô hai cũng thế. Đúng người ta bảo con gái là con người ta. Ngày đứa lớn lấy chồng, ông vừa mừng vừa tủi chỉ hỏi nó một câu:

“Muốn lấy chồng thật rồi hả con?”

Đứa con gái cười cười bảo:

“Thật mà ba, con lấy chồng cho ba đỡ vất vả còn gì. Mai mốt kiếm nhiều tiền con gửi về cho ba đỡ vất còn lo cho các em nữa.”

Thế mà nó đi luôn, cả năm về thăm ba và các em dịp Tết, mang theo hộp bánh chai rượu về để lên bàn thờ mẹ, nó cũng biếu ba nó đôi ba trăm sắm tết, ở chơi một hai ngày rồi đi luôn, cứ như là khách chứ chẳng phải nhà nó đâu. Có năm nó còn chẳng về nữa, thế là coi như ông mất đi một đứa con gái.

Rồi đến ngày đứa thứ hai hỏi ba cho nó lấy chồng. Lần này ông không hỏi con mình rằng muốn lấy chồng thật rồi hả con nữa, ông hỏi nhiều hơn:

“Lại lấy chồng xa hả con? Suy nghĩ kĩ chưa? Không lỡ sau này muốn chạy về nhà lại chẳng kịp.”

Đứa con gái cúi đầu, nó thương ba lắm, bao nhiêu năm ba vất vả nuôi chị em nó, lớn lên chưa báo đáp được gì đã vội lấy chồng xa, nó trông chị cả là thấy, lấy chồng rồi thì làm con nhà người ta chứ nào làm con của ba mẹ mình nữa. Nhưng đã chót thương nhau rồi thì biết làm sao, không đến với nhau cứ ở vậy mãi thì còn khổ ba hơn. Thế là nó đành gật đầu cái rụp bảo:

“Con thương người ta mà ba, sau này vợ chồng ở với nhau chứ nào ở với ba mẹ?”

Nói câu đó biết là ba sẽ buồn nhưng biết phải làm sao, đứa con chỉ biết sau này cố gắng về với ba với em nhiều hơn thôi. Trước ngày lấy chồng cô chị cứ dặn em út, sau này cố lấy chồng gần nha em, ở gàn còn lo cho ba được. Đứa em út nghe lời chị nói thấm từng câu từng chữ.

Ba chị em có cô út được học cao đẳng, may mắn học trường sư phạm nên không mất học phí ông Đoàn cũng đỡ vất vả hơn. Ngày tốt nghiệp xin được dạy trong thành phố, cô út vẫn khắc cốt ghi tâm lời chị dặn, đừng lấy chồng xa, hai chị ở xa rồi, giờ còn mình cô ở gần mà chăm ba. Thế nên có anh nào ngỏ ý làm quen, cô cứ hỏi nhà anh ở đâu, thấy xa quá là cô nhãng người ta luôn, hoặc có người ở gần thì cô lại chẳng thương, cứ thế người này đến rồi đi, cô mãi chẳng lấy chồng. Suy nghĩ thì cô thấy sao con gái cứ phải lấy chồng? Thế là cô út gạt hết chuyện yêu đương sang một bên, học tiếp lên đại học rồi nghe đâu sắp tới ra nước ngoài học thạc sĩ. Ông Đoàn cũng mừng và tự hào về con gái, đi đâu ông cũng khoe con ông học rộng tài cao sắp được đi nước ngoài. Người ta nghe chuyện con gái ông cũng ngưỡng mộ lắm, nhưng đoạn sau cùng vẫn hỏi: Thế nó sắp lấy chồng chưa? Đến đây ông lại trùng xuống, chậc lưỡi bảo: “Biết được nó!”


Mùa nắng rồi mùa mưa, tiếng rao của ông Đoàn đậu vẫn len lỏi khắp các con phố, chiếc xe đạp của ông đã ọp ẹp lắm, tóc ông đã bạc hết rồi, tay ông cầm bìa đậu bán cho khách mà cứ chậm chạp, run run khiến người ta nhìn mà sốt ruột. Nhiều sạp hàng mới mở ra bán đủ thứ, chiếc xe đậu của ông cũng trở nên lỗi thời, ông không đi bán thường xuyên nữa. Từng mùa, từng mùa cứ qua như thế, lũ trẻ con cũng dần dần lớn lên và đi học xa tận ngoài thành phố như con út nhà ông, chúng cũng ít khi về lắm, một năm về đôi ba lần. Tết năm nay, một đứa trẻ trong đám ngày xưa vẫn hay chơi đuổi bắt giờ đã trưởng thành trở về thăm nhà, ngồi rửa lá dong trước cửa bâng quơ hỏi mẹ:

“Bao lâu nay không còn thấy ông Đoàn đậu nữa mẹ nhỉ?”

Bà mẹ tay vẫn lau lá dong chép miệng buông một câu cũng bâng quơ:

“Ông ấy mất rồi còn đâu…”

Cơn gió đông lạnh buốt thổi những lá bàng khô bay xào xạc. Trên cành cao một chiếc lá đỏ lừ đang đong đưa từng nhịp theo cơn gió, cố bám vào cành cây nhưng chẳng thể nào chống lại được sức mạnh của tự nhiên. Nó đong đưa thêm đôi ba lần rồi thả mình trong ngọn gió chiều đông. Rơi xuống lẫn vào đám lá khô. Mất hút.

Thúy Linh

2017

5 1 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x